Cuộc Sống Khó Khăn Do Thiếu Nhà Ở

Ông Trần Đình Thiên nhấn mạnh: “Nếu tập trung cứu những doanh nghiệp cũ, sau dịch vẫn là những cái cũ thôi. Mục tiêu quy hoạch nhằm nâng cao vai trò vị thế của TP Hải Phòng trong khu vực và trái đất. Phát triển thành phố Hải Phòng thành TP cảng văn minh, tiến bộ, thông minh và có phiên bản sắc. Phát triển thích hợp với yêu cầu tăng trưởng xanh và thích ứng với chuyển đổi khí hậu; xây dựng TP Hải Phòng trở thành trung tâm kinh tế hồ hàng đầu của cả nước, là trung tâm dịch vụ, công nghiệp công nghệ cao; trung tâm du lịch, giáo dục – tập huấn, khoa học công nghệ, giáo dục huấn luyện và y tế của vùng duyên hải Bắc Bộ.

Ngoài giá trị về kinh tế, công nghiệp FDI còn tạo thêm hàng triệu việc làm, góp phần bửa sung và hoàn thiện các mô hình thống trị và tổ chức sinh sản mới thích hợp với cơ chế thị trường ở Việt Nam. Mô hình khu công nghiệp, khu chế xuất (KCN, KCX) chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp với các ngành sản phẩm mũi nhọn, có chất lượng cao, phục vụ xuất khẩu. Tới nay, cả nước có 122 KCN được cấp giấy phép họat động. Sự tham gia của công nghiệp FDI nói chung và các KCN nói riêng đã tạo ra sức cạnh tranh quan trọng thúc đẩy các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế nước ta đầu tư chiều sâu, đổi mới máy móc trang bị, vận dụng công nghệ văn minh để giảm chi phí sản xuất, tăng chất lượng vật phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và xuất khẩu.

Hải Phòng là TP Cảng, là cửa chính ra đại dương của vùng châu thổ sông Hồng và các tỉnh phía Bắc, có tiềm năng nhiều chủng loại, phong phú để phát triển kinh tế đại dương, có vị trí chiến lược, nhập vai trò khác biệt quan trọng để phát triển vùng kinh tế trung tâm Bắc bộ và miền Bắc, trong hợp tác nhì hành lang – một vành đai kinh tế giữa VN và Trung Quốc và hội nhập với khu vực, quốc tế. Vùng đại dương và dải ven đại dương thành phố có vị trí đặc biệt về quốc phòng – bình an. Trong những năm qua, kinh tế đại dương Hải Phòng đã đóng góp khoảng 30% vào GDP toàn thành phố, GDP kinh tế hồ Hải Phòng cũng chiếm khoảng hơn 30% GDP kinh tế đại dương – ven đại dương cả nước và có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn tốc độ chung vùng ven biển cả nước. Cảng Hải Phòng được xếp vào nhóm các cảng quan yếu nhất trong 536 cảng đại dương của khu vực Đông Nam Á, đã từng bước khẳng định vị thế là một thương cảng lớn có công nghệ xếp túa tiến bộ tiền tiến trong khu vực.

Bám sát chỉ đạo của Thành ủy Hải Phòng, Bộ Tài chính, Tổng cục Thương chính; tranh thủ sự ủng hộ của Tỉnh ủy Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình (Thương chính Hải Phòng thực hiện nhiệm vụ thống trị nhà nước về Thương chính trên địa bàn các tỉnh Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên); cùng với đó là sự đoàn kết thống nhất trong toàn Đảng bộ, sự chủ động quyết liệt của cấp uỷ các cấp trong lãnh đạo, điều hành và tinh thần nỗ lực phấn đấu không biết mỏi mệt của mỗi CBCC, đảng viên đã tổ chức thực hiện, đưa Nghị quyết Đại hội lần thứ Nhất đi vào thực tiễn và đạt được nhiều thành tựu nổi bật. Qua đó xây dựng Đảng bộ tiếp tục phát triển vững mạnh, toàn diện, nâng cao vị thế, đóng góp quan trọng vào việc xây dựng ngành Hải quan tân tiến, chính quy, chuyên nghiệp, cũng như đảm bảo tình hình an toàn chính trị, phát triển kinh tế-xã hội của địa phương.

Vận tốc tăng trưởng của các nền kinh tế mới nổi nhìn chung ổn định hơn, IMF dự báo năm 2019, các nền kinh tế mới nổi tăng trưởng 4,7% (21), do giá dầu tăng, các hoạt động kinh tế của các nước xuất khẩu năng lượng có phần cải thiện, nhưng chịu tương tác của các yếu tố như rủi ro địa – chính trị bùng phát, điều kiện tài chính có xu hướng hạn hẹp và tình hình thương nghiệp căng thẳng. Thêm vào đó, trong bối cảnh tình hình thương mại có xu hướng căng thẳng, điều kiện tài chính không ngừng thắt chặt, sức ép nhưng các nền kinh tế mới nổi phải đối mặt sẽ tương đối lớn.

Cơ cấu kinh tế sẽ có sự dịch chuyển sâu sắc hơn theo hướng phát triển tỷ trọng các ngành công nghiệp tương trợ, các ngành công nghệ cao và tham gia chuỗi cung ứng quốc tế, trước hết với các nước thành viên tham gia FTA với Việt Nam. Các ngành du lịch, nông nghiệp, thủy, hải sản sẽ tiếp tục tăng trưởng thuận tiện. Các nhóm hàng chủ lực xuất khẩu của VN sẽ nhiều chủng loại hơn, nhóm ngành dệt may, giày dép và gạo có khả năng cạnh tranh nhờ giảm hàng rào thuế quan và mua được vật liệu giá rẻ, giúp giảm tiêu pha sản xuất. Các doanh nghiệp cũng có thêm thời cơ tham gia đấu thầu mua sắm công.

Điều đáng lưu ý trong năm 1997 là khủng hoảng tài chính tiền tệ tại các nước khu vực Đông – Đông Nam A’ (Đ-ĐNA). Cuộc khủng hoảng này, ở mức độ khác nhau, đã ảnh hưởng tới nền kinh tế trái đất bởi các nước Đ-ĐNA chiếm khoảng 20% GDP, 23% giá trị thương mại thế giới, là một trong những khu vực vay vốn lớn, tính tới cuối năm 1996 tổng số nợ là 752 tỷ USD (3), (không tính Nhật Bản), và tỷ lệ đầu tư so với GDP của các nước trên khoảng 30 – 35% trong những năm 1990; trong khi đó tỷ lệ này ở các khu vực khác chỉ là 15 – 20% (4). Vì vậy, khi sự phát triển kinh tế của khu vực Đ-ĐNA bị lờ đờ lại, sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới các nước khác có quan hệ kinh tế, thương nghiệp, tiền tệ tài chính với khu vực nói trên.

Trả lời