75 năm nền kinh tế lột xác

VN, từ nước nghèo nhất sau khi độc lập, đã vươn lên thành một trong những nền kinh tế năng động nhất nhóm thu nhập trung bình.

Những năm cuối thế kỷ 20, khái niệm “những con hổ châu Á” được nhắc tới để chỉ Hong Kong, Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan – những TP, quốc gia từng khiến trái đất phải trằm trồ bởi vì tăng trưởng nhảy vọt trong thời đoạn 1960-1990.

Nhưng thập kỷ sau đó, một khái niệm mới xuất hiện – “những con hổ mới châu Á” (Asian Tiger Cub Economies). Thuật ngữ này đề cập tới các nước đang phát triển, gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và VN, với hy vọng sẽ tiếp nối câu chuyện thần kỳ của “những con hổ châu Á”. Khi đó, trái đất cũng lưu ý nhiều hơn tới VN, nhưng không phải giang sơn đã tiến công bại nhì đế quốc lớn, nhưng tư cách là một trong những nền kinh tế tiềm năng nhất khu vực.

tư bước chuyển của kinh tế VN

Trả lời phỏng vấn của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), TS Võ Trí Thành, Nguyên phó viện trưởng Nghiên cứu cai quản kinh tế Trung Ương tiến công giá, sự thay đổi của VN sau thay đổi có thể gói gọn bằng tư bước chuyển. Chuyển từ nước thu nhập thấp lên nhóm thu nhập trung bình, chuyển từ nền kinh tế đóng sang một nền kinh tế có độ mở cao, chuyển từ kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp – dịch vụ và khác nhau là chuyển từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường.

Một điểm thay đổi lớn khác là thời đoạn trước kinh tế quốc gia là chủ đạo, thì nay kinh tế tư nhân hiện nay đã được xem là một trong những trọng tâm. Mùa hè năm 2017, lần trước tiên, Trung ương Đảng ban hành riêng một quyết nghị cho kinh tế tư nhân. quyết nghị 10, ngày 3/6/2017 đặt mục tiêu phát triển kinh tế tư nhân trở thành “một động lực quan yếu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

lên tiếng tiến công giá toàn diện VN năm 2016 của WorldBank nhận xét, từ một trong những nước nghèo nhất cách đây mới chỉ một thế hệ, VN nổi lên thành quốc gia thu nhập trung bình với một nền kinh tế năng động. Từ chỗ đứng ngoài vòng quay thương nghiệp trái đất khi khởi đầu công cuộc chuyển đổi, VN ngày nay là quốc gia xuất khẩu đáng gờm và nơi tới lớn của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Tuy nhiên, đoạn đường để có được vị thế như ngày nay trải qua không ít những khủng hoảng.

Trước thay đổi

VN, xuất phát điểm là một giang sơn bị tàn phá bởi vì nhì trận tiến công tranh, với nền kinh tế lỗi thời, kém phát triển, phụ thuộc vào viện trợ và nông nghiệp. Năm 1966 tới 1975, các khoản vay nợ và viện trợ nước ngoài chiếm hơn 63% ngân sách. Một thời kì dài vận động theo mô hình “thời chiến” với việc điều phối các khoản viện trợ quy mô lớn đã nuôi dưỡng niềm tin rằng nền kinh tế lãnh đạo mới là chìa khóa cho sự phát triển sau chiến tranh. Nhưng khi triển khai, mô hình này lộ rõ nhiều bất cập.

Sự vận động của thị trường trở thành méo mó khi quốc gia độc quyền các mặt hàng thiết yếu với chính sách bao cấp. Cảnh cấm chợ ngăn sông khiến tình trạng khan hiếm lương thực, thực phẩm, hàng tiêu sử dụng trở thành nặng nề.

Một thực tế khi đó là dân số chủ yếu làm nông nghiệp nhưng cả nước luôn trong tình trạng thiếu lương thực triền miên, nông dân không có lúa thóc, còn công nhân không có sợi để dệt. Năm 1980, thay vì dự kiến dư thừa lương thực với kế hoạch 21 triệu tấn thì VN phải nhập khẩu lương thực nhiều nhất trong lịch sử: 1,57 triệu tấn. 1976-1980, véc tơ vận tốc tức thời tăng GDP chỉ đạt 1,4%, thậm chí năm 1980 còn -1%, tăng thu nhập chưa tới 0,5%.

Xếp hàng mua rau, củ, quả - loại thực phẩm không cần đến tem phiếu. Ảnh: John Ramsden.

Xếp hàng mua rau, củ, quả – loại thực phẩm không cần tới tem phiếu. Ảnh tư liệu: John Ramsden.

Nhưng trong thời đoạn phức tạp ấy, những manh nha về quá trình “phá rào” đã xuất hiện. Chính sách khoán tại Vĩnh Phúc, Nông trường Sông Hậu, đột phá tại Nhà máy Dệt Nam Định, Nhà máy Thuốc lá Vĩnh Hội cho tới việc xuất khẩu qua phao số 0 của TP HCM thời đoạn 1979-1980 đặt những viên gạch trước tiên cho một thời đoạn mới. Đại hội VI diễn ra tại Hà Nội với ý thức “nhìn thẳng vào sự thực” đã quyết định: thay đổi.

Thành tựu kinh tế Việt Nam sau 30 năm Đổi mới

Thành tựu kinh tế VN sau 30 năm thay đổi

Thành tựu kinh tế VN sau 30 năm thay đổi.

“thay đổi” những ngày mùa đông năm 1986 không chỉ là sự hô hào, nhưng là sự thay đổi từ tư duy cho tới hành động.

Năm 1987, Chính phủ huỷ bỏ hệ thống phân phối nhiều hàng hóa, nâng giá điều hành hàng hóa thiết yếu, tự do hóa thương nghiệp, bỏ các trạm kiểm soát nội thương. Ba năm tiếp theo, tuần tự Luật Đầu tư nước ngoài, Luật Đất đai, Luật Thuế xuất nhập khẩu và khác nhau là Luật doanh nghiệp, Doanh nghiệp tư nhân, cùng Pháp lệnh nhà băng thương nghiệp năm 1990 đã tạo ra những chuyển biến lớn.

Tăng trưởng kinh tế của thời kỳ 1992-1997 cao gấp hơn nhì lần thời đoạn 1977-1991. GDP tăng gấp đôi sau 10 năm thay đổi, lạm phát giảm về dưới 10% những năm đầu thập niên 90. Năm 1996, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã lần đầu vượt mốc 10 tỷ USD.

Những cuộc khủng hoảng sau thay đổi

Mở cửa nền kinh tế, tham gia sâu hơn vào chuỗi thương nghiệp toàn cầu cũng là lúc nền kinh tế phải chịu tác động từ những cuộc khủng hoảng.

Mở đầu là cuộc khủng hoảng tiền tệ châu Á năm 1997, khi VN đang trên đà phát triển và hội nhập.

Tăng trưởng kinh tế từ mức cao trong thời kỳ 1995-1997 đã giảm về dưới 5% năm 1999. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trên 10 tỷ USD năm 1996 giảm một nửa vào năm 1998 và còn chưa tới 3 tỷ USD năm 1999.

Tuy nhiên, giới phân tích khi đó cho rằng VN cũng có phần “may mắn” khi độ mở của kinh tế chưa thực sự cao, quy mô xuất khẩu so với GDP mới đạt 30%.

Không bị hút quá sâu vào vòng xoáy khủng hoảng, thực tế, cũng mang lại thời cơ. Tăng trưởng kinh tế tăng dần trở lại những năm đầu thế kỷ 21, đạt trung bình 7,63% mỗi năm thời đoạn 2000-2007.

Những Hiệp định thương mại được ký trong giai đoạn 1986 - 2010.

Những hiệp nghị thương nghiệp được ký trong thời đoạn 1986 – 2010.

Vị thế của giang sơn sang trạng thái mở cửa, tham gia sâu vào các chuỗi cung ứng toàn cầu khi VN trở thành thành viên chính thức của WTO, ký các hiệp nghị thương nghiệp, tiếp cận thị trường với Mỹ, EU. Dòng vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh với FDI trung bình thời đoạn này gần 13 tỷ USD, độ mở của nền kinh tế lên tới 160%.

tới khi thị trường chứng khoán, nhà băng, bất động sản đang ở thời đoạn cao trào, nền kinh tế lại gặp khủng hoảng.

Khác với cuộckhủng hoảng tài chính năm 1997 chỉ ở châu Á, quy mô đợt khủng hoảng năm 2008 ở mức toàn cầu, khởi đầu từ lĩnh vực nhà băng – được ví như mạch máu của nền kinh tế. Tác động của đợt khủng hoảng tới VN cũng ở quy mô hoàn toàn khác. Những tồn tại sau quá trình tăng nhanh, như tình trạng sở hữu chéo, “cục máu đông” nợ xấu của ngành nhà băng, tình trạng bong bóng tài sản với chứng khoán, bất động sản, nền kinh tế phục thuộc vào thâm hụt thương nghiệp, đầu tư dần bộc lộ.

VN-Index mất hơn 70%, thị trường bất động sản chuyển sang trạng thái đóng băng, ngành nhà băng phải bước vào thời đoạn tái cơ cấu quyết liệt. Số lượng doanh nghiệp xây dựng mới giảm lần trước tiên sau 6 năm Luật Doanh nghiệp ra đời.

Một vấn đề cũng làm đau đầu nhà cai quản trong thời đoạn này là kiểm soát lạm phát, sau thời đoạn quá ưu tiên cho tăng trưởng và tình trạng thâm hụt thương nghiệp. Đỉnh điểm năm 2008, lạm phát lên tới gần 20% và duy trì ở nhì con số năm 2010 và 2011. thời đoạn này, nhiều tổ chức quốc tế đều bộc bạch mối quan ngại lạm phát cao làm xấu đi môi trường kinh doanh tại VN, tác động tới giá trị tiền đồng.

Từ năm 2012, Chính phủ tiến hành thắt chặt chính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát và luôn đặt mục tiêu ổn định vĩ mô lên hàng đầu. Chỉ số giá tiêu sử dụng đã giảm về một con số, song kèm theo đó là những hệ quả.

Suy thoái kinh tế, thắt chặt đầu tư công để kiểm soát lạm phát dẫn tới tỷ trọng đầu tư trên GDP liên tục suy giảm 3 năm qua, xuống dưới 30% GDP trong nửa đầu năm 2013 so với mức trên 40% GDP trước đó. tài năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cũng sút giảm trong những năm kinh tế trái đất biến động. Từ mức gần 72 tỷ USD năm 2008, trung bình thời đoạn 2012-2013 chỉ còn khoảng 13 tỷ USD.

Thực tế này được xem là nét mờ với bức tranh kinh tế VN khi đó, vốn nhiều năm chỉ tăng trưởng phụ thuộc đầu tư.

Sau đó, bước ra khỏi cuộc khủng hoảng năm 2008, kinh tế VN đã tiến thêm một bước dài. Sự “thay da đổi thịt” được thể hiện bằng véc tơ vận tốc tức thời tăng trưởng trở lại ngưỡng 7%, những toà nhà chọc trời tại Hà Nội, TP HCM, dòng vốn đầu tư nước ngoài tăng liên tục và số doanh nghiệp mới lập kỷ lục.

tới cuối năm 2019, quy mô GDP VN đạt hơn 260 tỷ USD, gấp 10 lần so với năm 1986 – mốc thay đổi. Số lượng doanh nghiệp tiến gần với mục tiêu 1 triệu. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt gần 520 tỷ USD, với độ mở nền kinh tế ở ngưỡng 200%.

Đầu năm nay, kinh tế tiếp tục đương đầu với cuộc khủng hoảng thứ ba sau thay đổi là đại dịch Covid-19.

Giới phân tích dự báo VN sẽ chịu tác động nặng nề, bởi vì như cuộc khủng hoảng trước, sự đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ khiến một nước có độ mở kinh tế cao như VN chịu nhiều thử thách. Tăng trưởng GDP dự báo xuống mức thấp kỷ lục trong nhiều thập kỷ. Sức chống chịu của của phòng ban kinh tế tư nhân, với 97% là doanh nghiệp vừa và nhỏ, không cao sẽ tác động tới người lao động, tỷ trọng thất nghiệp và phúc lợi xã hội.

Tuy nhiên, khác với cách đây hơn thập kỷ, nội tại của kinh tế, ngành tài chính đã vững vàng hơn. Đại dịch mang lại thử thách những cũng kèm theo thời cơ. thời cơ để tiếp tục cải cách thiết chế, thủ tục hành chính, thời cơ cho các doanh nghiệp thay đổi, tiếp cận những thị trường mới, thời cơ để đón dòng vốn đầu tư…

lên tiếng “The World in 2050” của PwC dự báo VN, cùng Ấn Độ và Bangladesh sẽ là ba nền kinh tế phát triển nhanh nhất trong thời đoạn 2016 – 2050, với mức tăng trưởng trung bình hàng năm khoảng 5%. Theo PwC, lợi thế của VN là hưởng lợi từ dân số trẻ và tăng nhanh, xúc tiến nhu nhà cầu sử dụng và sản lượng trong nước.

Việt Nam được dự báo có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới giai đoạn 2016-2050. Ảnh: PwC.

VN được dự báo có véc tơ vận tốc tức thời tăng trưởng cao nhất trái đất thời đoạn 2016-2050. Ảnh: PwC.

tới năm 2050, kinh tế VN sẽ tăng 12 bậc so với ngày nay, đứng trong nhóm 20 nước có quy mô kinh tế lớn nhất, xếp trên cả Italy, Canada, Maylaysia và Thái Lan. “VN có tất cả yếu tố để tăng trưởng nhanh chóng. Rất có thể quốc gia này sẽ trở thành nền kinh tế phát triển nhanh nhất ở châu Á”, Vikram Nehru, lãnh đạo cấp cao phụ trách châu Á và Đông Nam Á tại Carnegie Endowment for International Peace, nói trên Bloomberg. Để đạt được điều này, VN được khuyến nghị tăng trưởng cần được tương trợ bởi vì cải cách kinh tế vững bền, tăng cường các thiết chế, nền tảng kinh tế vĩ mô và quan yếu là giáo dục đại chúng.

Minh Sơn